Xuất khẩu gạo kỳ vọng cải thiện kim ngạch các tháng cuối năm

🗓️ 2026-08-28 📁 business-finance 📝 ⏱️ 👁️ : -
Chú thích ảnh
Đóng gói sản phẩm gạo ở nhà máy của Tập đoàn Lộc Trời (tỉnh An Giang). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Tổng lượng gạo xuất khẩu cả năm 2026 dự kiến khoảng 7,738 triệu tấn; trong đó từ ngày 15/8 đến cuối năm cần xuất khẩu thêm khoảng 2,012 triệu tấn.

Dự báo cả năm 2026, tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt khoảng 3,94 tỷ USD, giảm khoảng 4% so với năm 2025, do giá xuất khẩu bình quân các tháng đầu năm ở mức thấp. Tuy nhiên xu hướng phục hồi giá từ tháng 7/2026 được kỳ vọng cải thiện kim ngạch các tháng cuối năm.

Nhiều yếu tố thuận lợi

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thị trường gạo thế giới đang xuất hiện một số yếu tố thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong những tháng cuối năm.  Giá xuất khẩu gạo tháng 7/2026 lần đầu tiên trong năm cao hơn cùng kỳ năm 2025, tăng 5,8%, đồng thời đạt mức cao nhất kể từ tháng 6/2025. Nếu duy trì được mặt bằng giá, kim ngạch xuất khẩu gạo những tháng cuối năm có thể được cải thiện.

Cân đối cung - cầu gạo thế giới trong niên vụ 2026/2027 được dự báo chuyển sang trạng thái thâm hụt. Trong khi đó, thương mại gạo toàn cầu dự kiến đạt mức kỷ lục và khả năng xuất hiện El Nino với cường độ mạnh có thể thúc đẩy các nước tăng dự trữ lương thực.

Tại Philippines, thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, nước này khẳng định không áp dụng lệnh tạm dừng nhập khẩu trong năm 2026 và tiếp tục nhập khẩu để tăng dự trữ. Đây là yếu tố tích cực đối với xuất khẩu gạo Việt Nam. Philippines cũng dự kiến nhập khẩu khoảng 5,6 triệu tấn gạo trong niên vụ 2026/2027, lớn nhất thế giới. Trong 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu gạo của nước này tăng khoảng 27% so với cùng kỳ.

Thị trường Trung Quốc cũng ghi nhận mức tăng trưởng nhập khẩu đột phá về lượng, đặc biệt đối với gạo tấm làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, mở ra dư địa lớn cho gạo nguyên liệu, gạo tấm và gạo nếp của Việt Nam.

Nigeria dự kiến thiếu hụt khoảng 3,5 triệu tấn gạo trong niên vụ 2026/2027, tạo dư địa cho Việt Nam nếu cải thiện được năng lực cạnh tranh về giá. Kenya miễn thuế nhập khẩu gạo trắng theo hạn ngạch đến hết tháng 11/2026.

Trong nước, nguồn cung không còn dồi dào giúp giảm áp lực bán tháo, tạo điều kiện để doanh nghiệp đàm phán giá tốt hơn. Đặc biệt, phân khúc gạo chất lượng cao, phát thải thấp có chứng nhận đang đạt mức giá trên 1.000 USD/tấn tại một số thị trường như Nhật Bản, EU và Australia, cho thấy dư địa nâng cao giá trị gia tăng của gạo Việt Nam còn lớn.

Rủi ro từ các thị trường và chi phí đầu vào

Bên cạnh những thuận lợi, xuất khẩu gạo Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức. Đáng chú ý, Philippines đang xem xét áp dụng thuế tự vệ bổ sung đối với gạo Việt Nam (có cả Thái Lan, Myanmar và Pakistan). Nếu được thông qua, tổng mức thuế có thể vượt 35%. Đây là rủi ro đáng lưu ý bởi Philippines hiện là thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Indonesia chưa có kế hoạch nhập khẩu gạo trong năm 2026 do sản lượng và dự trữ trong nước ở mức cao, khiến thị trường này gần như đóng cửa đối với gạo Việt Nam.

Một số thị trường châu Phi như Bờ Biển Ngà và Ghana giảm mạnh nhập khẩu gạo Việt Nam do giá cao hơn gạo Ấn Độ và Pakistan ở phân khúc phổ thông. Trong khi đó, Thái Lan đang gia tăng hiện diện tại Trung Quốc thông qua các hợp đồng Chính phủ; Campuchia cũng tăng mạnh xuất khẩu gạo thơm, tạo sức ép cạnh tranh trực tiếp với gạo Việt Nam.

Chi phí đầu vào như phân bón, vận tải và năng lượng tiếp tục ở mức cao do căng thẳng địa chính trị và các biện pháp hạn chế xuất khẩu của một số quốc gia, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông dân.

Ngoài ra, El Nino được dự báo có thể tác động đến vụ Đông Xuân 2026-2027. Nguy cơ hạn hán, xâm nhập mặn có thể xuất hiện từ cuối tháng 12/2026 đến tháng 4/2027, đòi hỏi ngành hàng chủ động phương án ứng phó ngay từ khâu bố trí thời vụ và cơ cấu giống.

Thương mại gạo thế giới tiếp tục ở mức cao

Theo báo cáo cung - cầu nông sản thế giới (WASDE) tháng 8/2026 của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2026/2027 được điều chỉnh tăng nhẹ, ước đạt khoảng 537,3 - 537,8 triệu tấn quy xay xát, nhưng vẫn giảm khoảng 2% so với mức kỷ lục 545,5 triệu tấn của niên vụ 2025/2026. Mức điều chỉnh tăng so với dự báo tháng trước chủ yếu đến từ Hoa Kỳ, Uzbekistan và Afghanistan, bù đắp một phần mức giảm sản lượng của Peru.

Thương mại gạo toàn cầu được dự báo duy trì mức kỷ lục khoảng 62,8 - 62,9 triệu tấn, năm thứ hai liên tiếp tăng. Động lực chính đến từ Trung Quốc tăng mạnh nhập khẩu gạo tấm phục vụ ngành thức ăn chăn nuôi, với nguồn cung chủ yếu từ Việt Nam, Ấn Độ và Myanmar; cùng với Mozambique tăng nhập khẩu gạo châu Á có giá cạnh tranh. Xu hướng này bù đắp cho mức giảm nhập khẩu tại Guinea do tắc nghẽn cảng và cước vận tải cao, cũng như tại Lào.

Tiêu thụ và sử dụng nội địa toàn cầu trong niên vụ 2026/2027 ước đạt 541,4 - 542,8 triệu tấn, tăng khoảng 1% so với niên vụ trước, chủ yếu tại Trung Quốc, Mozambique và Hoa Kỳ.

Cân đối cung - cầu toàn cầu được dự báo chuyển sang trạng thái thâm hụt khoảng 4 - 5,5 triệu tấn so với sản xuất. Theo đó, tồn kho cuối niên vụ 2026/2027 có thể giảm còn khoảng 192,6 triệu tấn, thấp hơn 3% so với mức 198,2 triệu tấn của niên vụ trước. Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục chiếm phần lớn lượng tồn kho toàn cầu, lần lượt khoảng 56% và 26%.

Về giá, sau hai năm giảm sâu, giá gạo thế giới được cho là đã tạo đáy trong tháng 2 - 3/2026 và đảo chiều tăng từ tháng 4. Chỉ số giá gạo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) tăng liên tiếp trong 4 tháng, với mức tăng lần lượt 1,9% trong tháng 4, 2,7% tháng 5 và 3,2% tháng 6; tháng 7 duy trì ổn định. Đây là chu kỳ tăng dài nhất kể từ năm 2023. Xu hướng tăng tiếp tục được củng cố trong tháng 7 - 8/2026 khi giá chào của Thái Lan, Hoa Kỳ, Uruguay và Pakistan đồng loạt tăng.

Đối với Việt Nam, những diễn biến đáng chú ý từ thương mại gạo toàn cầu, tồn kho thu hẹp và các thị trường như: Trung Quốc, Mozambique… có tác động trực tiếp đến xuất khẩu thời gian tớ. Song để tận dụng cơ hội, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường, nâng chất lượng và giá trị sản phẩm, đồng thời theo dõi sát các thay đổi về chính sách thuế, nhập khẩu tại những thị trường lớn.