Từ yêu cầu của Nghị quyết 57-NQ/TW đến làm sạch dữ liệu thuế

🗓️ 2026-09-12 📁 business-finance 📝 ⏱️ 👁️ : -

Giảm nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các pháp nhân ‘ma’

Theo Cục Thuế, dữ liệu sau khi được làm sạch, chuẩn hóa sẽ là nền tảng cho Hệ thống quản lý thuế mới và kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia, từng bước cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57: “Lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy chuyển đổi số làm công cụ và lấy giá trị tạo ra cho doanh nghiệp, người dân và nền kinh tế làm thước đo hiệu quả”.

Thực tế cho thấy, dữ liệu doanh nghiệp sẽ khó phản ánh chính xác sức khỏe của nền kinh tế nếu vẫn còn một lượng lớn pháp nhân ngừng hoạt động, nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký.

Tháng 6/2026, số doanh nghiệp thuộc hai nhóm này lên tới gần 600.000, đây là lượng dữ liệu lớn cần được rà soát, chuẩn hóa và phân loại lại để phục vụ quản lý thuế cũng như kết nối với các cơ sở dữ liệu khác. 

Ông Mai Sơn, Phó Cục trưởng Cục Thuế cho biết, đây là quá trình tái cấu trúc dữ liệu NNT, qua đó phản ánh sát hơn “sức khỏe” của nền kinh tế, giải phóng nguồn lực đang bị tồn đọng và tạo điều kiện để doanh nghiệp tuân thủ hoạt động thuận lợi hơn. Cùng với đó, dữ liệu sạch giúp cơ quan Thuế chuyển từ phương thức quản lý dàn trải sang quản lý dựa trên rủi ro, tập trung nguồn lực vào những đối tượng có dấu hiệu gian lận, mua bán hóa đơn, trốn thuế, qua đó hạn chế thất thu ngân sách và bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng.

“Khi dữ liệu được chuẩn hóa, những doanh nghiệp thực sự hoạt động sẽ giảm nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các pháp nhân ‘ma’, trong khi cơ quan quản lý có điều kiện tập trung nguồn lực vào các nhóm có rủi ro cao”, đại diện Cục Thuế cho biết.

Kiểm soát ngay từ khâu đăng ký doanh nghiệp và thuế

Trong quá trình triển khai Chiến dịch, nhiều ý kiến than phiền, việc làm của cơ quan Thuế khiến cho các doanh nghiệp dù đã ngừng hoạt động từ nhiều năm trước, không phát sinh doanh thu, không có nợ đọng thuế bỗng nhiên vẫn phải “sống lại”. 

Để có thể đóng mã số thuế, các chủ doanh nghiệp này buộc phải nộp phạt lên đến vài chục triệu đồng và mệt mỏi hoàn tất hàng trăm tờ khai, báo cáo các loại. Đề cập về tình trạng NNT ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (trạng thái 03) và không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh (trạng thái 06) tồn đọng nhiều năm qua, ông Nguyễn Đức Huy, Phó ban Nghiệp vụ (Cục Thuế) cho rằng, việc rút khỏi thị trường, giải thể và chấm dứt hiệu lực mã số thuế phải hoàn thành nhiều thủ tục, nghĩa vụ với cơ quan Thuế, với cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan khác.

“Đối với NNT đã ngừng hoạt động, nhưng còn thiếu hồ sơ khai thuế, còn tiền phạt, tiền chậm nộp, nợ thuế, lệ phí môn bài hoặc các nghĩa vụ tồn đọng khác, việc hoàn tất thủ tục theo quy trình thông thường gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp nợ đã khoanh, nợ không có khả năng thu hoặc còn số tiền nộp thừa nhưng không còn chủ thể để xử lý cũng chưa có cơ chế kết thúc phù hợp”, ông Nguyễn Đức Huy cho biết.

Về phía NNT, nhận thức và mức độ tuân thủ pháp luật về tạm ngừng, giải thể, chấm dứt hoạt động còn hạn chế. Có trường hợp tự ngừng hoạt động, bỏ địa chỉ đăng ký mà không thông báo; không nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế, không phối hợp với cơ quan thuế hoặc lựa chọn bỏ địa chỉ vì cho rằng đơn giản hơn việc thực hiện thủ tục giải thể.

Khi ngừng hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm bộ máy, trả mặt bằng, không còn kế toán, con dấu, chữ ký số hoặc không lưu giữ đầy đủ sổ sách, hóa đơn, chứng từ; người đại diện theo pháp luật có trường hợp đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi, xuất cảnh hoặc không thể liên hệ, nên không còn chủ thể thực hiện thủ tục.

Về tổ chức của cơ quan Thuế, việc giải quyết hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động tại một số địa bàn còn chậm; việc kiểm tra quyết toán, ban hành biên bản, kết luận và xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế có trường hợp chưa kịp thời. Nguồn lực xử lý chưa tương xứng với khối lượng hồ sơ tồn đọng; công tác quản lý sau khi NNT bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký có thời điểm chưa được thực hiện liên tục, chưa gắn đầy đủ với rà soát hóa đơn, khai thuế, nợ thuế và các biện pháp xử lý tiếp theo...

Đặc biệt, một số trường hợp có tính chất đặc thù, phức tạp như doanh nghiệp giả mạo thông tin cá nhân, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn; đơn vị hành chính, sự nghiệp sau sắp xếp không xác định rõ chủ thể kế thừa nghĩa vụ; chi nhánh phụ thuộc có trạng thái hoặc nghĩa vụ khác với đơn vị chủ quản. Các trường hợp này không thể xử lý dứt điểm chỉ bằng quy trình chấm dứt hiệu lực mã số thuế thông thường.

Để có những giải pháp tháo gỡ tình trạng trên, ông Nguyễn Đức Huy cho rằng, cần kiểm soát ngay từ khâu đăng ký doanh nghiệp và đăng ký thuế. Đồng thời, tăng cường quản lý đối với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Khoản 3 Điều 35 Nghị định số 168/2025/NĐ-CP đã quy định việc xác lập, chuyển và kết thúc tình trạng pháp lý “Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký”; đồng thời, quy định trách nhiệm cơ quan Thuế gửi thông tin để cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật vào Cơ sở dữ liệu Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Đối với NNT không còn sổ sách, hóa đơn, chứng từ, cơ quan thuế thực hiện ấn định thuế theo Điều 24 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và các điều 36, 37, 38 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Việc áp dụng đầy đủ các quy định này sẽ khắc phục tình trạng hồ sơ bị treo kéo dài chỉ vì không liên hệ được người nộp thuế hoặc không còn tài liệu để kiểm tra theo phương pháp thông thường. Ngoài ra, cơ quan Thuế quản lý người nộp thuế cần tăng cường công khai thông tin, kiểm soát hóa đơn điện tử và cảnh báo rủi ro.

Về phía cơ quan Thuế cần khai thác dữ liệu khai thuế, hóa đơn, nợ thuế và biến động địa chỉ để cảnh báo sớm, xác minh trước khi doanh nghiệp bỏ địa chỉ; xử lý kịp thời các trường hợp có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc lợi dụng pháp nhân để vi phạm. Song song với đó, thực hiện liên thông, cập nhật kịp thời trạng thái pháp lý của doanh nghiệp. 

Trên cơ sở đó, cơ quan Thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan công an cần tổ chức đối soát định kỳ, xử lý sai lệch về thông tin định danh, địa chỉ, người đại diện và trạng thái hoạt động; bảo đảm trường hợp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế hoặc đã hoàn tất thủ tục giải thể được cập nhật ngay, không tiếp tục tồn tại “ảo” ở trạng thái 03, 06.