Tự chủ không thể chỉ tăng học phí

🗓️ 2026-09-03 📁 education 📝 ⏱️ 👁️ : -

Tự chủ không thể chỉ tăng học phí - Ảnh 1.

Sinh viên Trường đại học Đại Nam học trên giảng đường - Ảnh: DNU

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phản hồi kiến nghị của cử tri về kiểm soát học phí đại học trong bối cảnh tự chủ. Những chính sách về mức trần học phí, miễn giảm, học bổng và tín dụng cho thấy Nhà nước không đứng ngoài áp lực tài chính của người học. Tuy nhiên, bài toán lớn hơn vẫn còn đó: làm sao để tự chủ giúp đại học tốt lên mà không thu hẹp cánh cửa của người nghèo?

Học phí và sinh viên nghèo

Là một giảng viên đại học, tôi chứng kiến không ít sinh viên vừa học vừa làm, xin đóng học phí thành nhiều đợt hoặc cân nhắc bảo lưu vì gia đình không kịp xoay xở.

Sau một con số học phí là tiền bán nông sản, khoản vay của cha mẹ, ca làm thêm của sinh viên và cả những dự định gia đình phải tạm gác lại. Bởi vậy, học phí không chỉ là câu chuyện tài chính, mà còn là câu chuyện công bằng xã hội.

Cần khẳng định rằng tự chủ đại học là xu hướng cần thiết. Một trường đại học không thể nâng cao chất lượng nếu mọi khoản chi, tuyển dụng hay đầu tư đều bị ràng buộc bởi cơ chế hành chính cứng nhắc.

Nhưng tự chủ không đồng nghĩa với việc Nhà nước giảm đầu tư, còn nhà trường lấy học phí làm nguồn bù đắp chủ yếu. Nếu hiểu tự chủ theo cách ấy, gánh nặng ngân sách chỉ được chuyển sang vai phụ huynh.

Học phí tăng chưa chắc là điều bất hợp lý nếu đi cùng chất lượng đào tạo, dịch vụ học tập và cơ hội việc làm tốt hơn. Vấn đề nằm ở chỗ người học có được biết vì sao tăng, khoản tăng được sử dụng vào đâu và chất lượng đã thay đổi thế nào hay không. Khi học phí tăng nhanh hơn thu nhập nhưng giá trị nhận lại khó đo lường, sự hoài nghi của xã hội là hoàn toàn chính đáng.

Phản hồi của Bộ cho thấy hệ thống chính sách đã có những lớp bảo vệ nhất định. Nghị định 238/2025 tiếp tục quy định trần học phí, chính sách miễn, giảm và hỗ trợ chi phí học tập.

Các chính sách học bổng dành cho ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược cùng chương trình tín dụng ưu đãi đã mở thêm cơ hội cho một bộ phận người học. Đây là những bước đi cần thiết nhưng chưa thể xem là đã giải quyết trọn vẹn vấn đề.

Khoảng trống đáng lo nhất hiện nay là những gia đình "không đủ nghèo để được hỗ trợ nhưng cũng không đủ khá để nhẹ nhàng đóng học phí". Đây là nhóm thu nhập trung bình thấp, lao động tự do, công nhân, viên chức trẻ hoặc hộ gia đình đang đồng thời nuôi nhiều con đi học. Chỉ một biến cố như thất nghiệp, bệnh tật hay mất mùa cũng có thể khiến việc học của con bị gián đoạn.

Do đó, kiểm soát học phí không thể chỉ dựa vào một mức trần. Trần học phí cần thiết để ngăn tăng giá tùy tiện, nhưng một con số chung khó phản ánh sự khác biệt giữa ngành đào tạo, điều kiện thực hành và năng lực từng trường.

Mặt khác, nếu chỉ kiểm soát học phí chính thức mà bỏ qua các khoản thu dịch vụ, học liệu, thực hành, chứng chỉ hay hoạt động bắt buộc, tổng chi phí học tập vẫn có thể vượt khả năng chi trả.

Giải bài toán học phí

Tôi cho rằng đầu tiên cần buộc các trường công khai giá thành đào tạo theo cấu phần. Người học cần biết bao nhiêu phần trăm học phí được dành cho giảng dạy, phòng thí nghiệm, thư viện, chuyển đổi số, hỗ trợ sinh viên và quản trị.

Báo cáo này phải được kiểm toán, trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu và công bố hằng năm. Minh bạch sẽ tạo áp lực để trường chi tiêu hiệu quả, đồng thời giúp xã hội phân biệt tăng học phí hợp lý với tăng thiếu căn cứ.

Thứ hai, mỗi khóa tuyển sinh cần được xem như một cam kết tài chính nhiều năm. Trường phải công bố mức học phí dự kiến cho toàn khóa, biên độ điều chỉnh tối đa và điều kiện được phép tăng. Sinh viên không thể nhập học với một mức phí rồi liên tục đối mặt những khoản tăng khó dự báo. Tính ổn định của học phí cũng quan trọng như mức học phí, bởi gia đình cần có khả năng lập kế hoạch tài chính dài hạn.

Tự chủ không thể chỉ tăng học phí - Ảnh 2.

Thí sinh tham dự kỳ thi đánh giá năng lực của Trường đại học Sư phạm Hà Nội năm 2026 - Ảnh: NGUYÊN BẢO

Thứ ba, chính sách hỗ trợ phải chuyển từ phân loại cứng theo diện hộ nghèo sang đánh giá khả năng chi trả thực tế. Có thể xây dựng cơ chế trợ cấp theo nhiều bậc, căn cứ thu nhập, số người phụ thuộc, nơi cư trú, biến cố gia đình và chi phí của ngành học. Nhóm khó khăn nhất được miễn, giảm sâu; nhóm cận ngưỡng nhận hỗ trợ một phần. Như vậy sẽ tránh tình trạng chỉ chênh một tiêu chí mà quyền lợi khác biệt quá lớn.

Thứ tư, tín dụng sinh viên cần được mở rộng theo hướng hoàn trả dựa trên thu nhập. Chính sách dành cho người học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán với lãi suất ưu đãi là tín hiệu tích cực, nhưng sinh viên những ngành thiết yếu khác cũng có thể gặp khó khăn tương tự. Khoản vay nên bắt đầu được hoàn trả khi người tốt nghiệp có việc làm và đạt ngưỡng thu nhập nhất định, thay vì chỉ căn cứ thời gian kết thúc khóa học.

Cơ chế trả nợ theo thu nhập có ý nghĩa đặc biệt vì nó chia sẻ rủi ro giữa người học, Nhà nước và xã hội. Nếu người tốt nghiệp chưa tìm được việc hoặc thu nhập còn thấp, nghĩa vụ trả nợ được giãn phù hợp. Khi thu nhập tăng, họ hoàn trả theo tỉ lệ nhất định. Chính sách như vậy giúp tín dụng thực sự trở thành chiếc cầu đến giảng đường, thay vì biến tấm bằng thành điểm khởi đầu của một áp lực nợ nần.

Thứ năm, học bổng không nên chỉ tập trung vào người đạt thành tích cao nhất. Đại học cần có học bổng duy trì việc học dành cho sinh viên tiến bộ, sinh viên gặp biến cố hoặc có nguy cơ bỏ học. Nhà nước có thể quy định tỉ lệ tối thiểu từ nguồn thu học phí phải quay lại quỹ hỗ trợ người học. Việc xét cấp cần nhanh, kín đáo và tôn trọng, để sinh viên không phải chứng minh hoàn cảnh bằng những thủ tục gây tổn thương.

Thứ sáu, Nhà nước vẫn phải giữ vai trò đầu tư chủ đạo đối với những ngành phục vụ lợi ích công nhưng khó thu hút nguồn lực thị trường. Đào tạo giáo viên, khoa học cơ bản, văn hóa, nông nghiệp, môi trường hay một số lĩnh vực y tế không thể chỉ tính bằng khả năng thu học phí. Cơ chế đặt hàng phải dựa trên nhu cầu nhân lực, gắn kinh phí với chất lượng đầu ra và không để trường nhận nhiệm vụ nhưng thiếu nguồn lực thực hiện.

Thứ bảy, các trường phải đa dạng hóa nguồn thu thay vì xem học phí là chiếc van dễ mở nhất. Nguồn lực có thể đến từ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo ngắn hạn, hợp tác doanh nghiệp, quỹ hiến tặng, mạng lưới cựu sinh viên và khai thác hợp lý tài sản công. Một trường tuyên bố tự chủ nhưng phần lớn doanh thu vẫn dựa vào học phí thì mới chỉ tự chủ về thu, chưa đạt năng lực tự chủ phát triển.

Tuy nhiên, hợp tác doanh nghiệp phải được thiết kế để bổ sung nguồn lực và cơ hội nghề nghiệp, không thương mại hóa môi trường học thuật. Doanh nghiệp có thể đồng tài trợ phòng thí nghiệm, học bổng, đề tài nghiên cứu và chương trình thực tập; đổi lại được tiếp cận nguồn nhân lực, kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ minh bạch. Không nên để các khoản tài trợ trở thành lý do chi phối chương trình hoặc biến sinh viên thành khách hàng quảng cáo.

Thứ tám, bản thân trường đại học phải tiết giảm những chi phí chưa trực tiếp tạo ra chất lượng. Người học khó chia sẻ với việc tăng học phí nếu bộ máy còn cồng kềnh, đầu tư hình thức, hội họp dày đặc hoặc chạy theo cơ sở vật chất phô trương. Tự chủ phải bắt đầu bằng quản trị tinh gọn, mua sắm minh bạch, đánh giá hiệu quả từng khoản chi và ưu tiên thu nhập xứng đáng cho người trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu.

Thứ chín, sinh viên cần có tiếng nói trong quyết định học phí. Trước mỗi đợt điều chỉnh, trường nên tổ chức tham vấn hội đồng người học, công bố báo cáo tác động và giải trình các ý kiến phản biện. Đồng thời phải xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với sinh viên nợ học phí, nghỉ học nhiều hoặc tăng giờ làm thêm bất thường. Hỗ trợ chỉ có ý nghĩa khi đến trước lúc người học buộc phải rời giảng đường.

Thứ mười, cũng là cuối cùng, cơ quan quản lý không nên chỉ đánh giá tự chủ qua doanh thu, quy mô tuyển sinh hay số chương trình mở mới. Một bộ chỉ số trách nhiệm xã hội cần được công bố cho từng trường, gồm mức tăng học phí, tỉ lệ sinh viên được hỗ trợ, tỉ lệ bỏ học vì tài chính, nợ vay sau tốt nghiệp, việc làm và thu nhập của người học. Trường sử dụng học phí hiệu quả được trao thêm quyền; trường thiếu minh bạch phải bị kiểm tra và hạn chế tăng.

Giáo dục đại học vừa tạo lợi ích cho cá nhân, vừa tạo nguồn nhân lực và năng lực đổi mới cho quốc gia. Vì vậy, chi phí không thể đẩy hết về một phía. Nền đại học lành mạnh cần sự đồng trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, gia đình và người học.

Tự chủ chỉ thực sự thành công khi trường mạnh hơn, giảng viên được làm nghề tốt hơn, nhưng cánh cửa đại học vẫn mở với người trẻ có năng lực, bất kể các em sinh ra trong một gia đình giàu hay nghèo.

Đọc tiếp

Về trang Chủ đề