Thu hút nhân tài kiều bào: 'Hãy giao cho họ việc đủ lớn!'

Kiều bào, trong đó có nhiều nhà khoa học, tham gia đoàn công tác số 10 thăm quân và dân đặc khu Trường Sa hồi tháng 4 - Ảnh: NGỌC ĐỨC
Nghị quyết 19 của Trung ương đặt yêu cầu thu hút trí thức, chuyên gia, nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài bằng cơ chế đặc thù, vượt trội.
Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị lần đầu đặt hình thức "đóng góp linh hoạt từ xa" ngang hàng với việc tham gia lâu dài trong nước. Yêu cầu có chính sách đãi ngộ, đồng thời tạo môi trường làm việc minh bạch, cạnh tranh và trao quyền cho nhà khoa học kiều bào.
Trong khi đó, ngày 24-8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đưa ra loạt chỉ đạo về công tác thu hút nhân tài kiều bào, trong đó yêu cầu công khai những bài toán lớn của đất nước để tìm đúng người có khả năng giải quyết.
Loạt quan điểm trên từng bước tháo gỡ những băn khoăn lâu nay của các chuyên gia kiều bào cho việc đóng góp trí tuệ, tri thức vào việc xây dựng đất nước - những băn khoăn vượt khỏi khuôn khổ đãi ngộ tiền bạc thông thường.
Đãi ngộ tiền bạc không bằng cơ chế
Trao đổi với Tuổi Trẻ, PGS.TS Dương Minh Hải, nhà khoa học vật liệu tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS), chỉ ra rằng đãi ngộ là điều kiện cần, nhưng chưa phải thứ giữ chân người tài ở lại nước ngoài.
Theo ông, một chuyên gia đang làm việc tại Singapore, Mỹ hay châu Âu thường đã có phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, nguồn tài trợ, đối tác và mạng lưới quốc tế xây dựng qua nhiều năm. Trở về vì vậy không đơn thuần là đổi nơi làm việc, mà có thể là đánh đổi cả một hệ sinh thái nghiên cứu.
"Nếu thiếu thiết bị, kinh phí ngắn hạn, thủ tục hành chính nặng nề hoặc nhà khoa học không có đủ quyền xây dựng nhóm và quyết định hướng nghiên cứu thì mức lương cao hơn cũng khó tạo sức hút bền vững", ông Hải khẳng định.

TS Lại Tuấn Dũng, còn được biết đến với các kênh mạng xã hội Dũng Lại Lập Trình, đang giảng dạy về AI tại ĐH Swinburne (Úc) - Ảnh: NVCC
Ở một góc độ khác, TS Lại Tuấn Dũng, giảng viên trẻ ngành AI tại Đại học Swinburne (Úc), cho rằng thứ ít tốn kém nhất lại đang thiếu nhất: sự công nhận chính thống.
"Đôi khi chỉ cần một sự công nhận nhỏ, chính thống từ quốc gia, từ quê hương cho sự cố gắng của kiều bào ở nước ngoài đóng góp cho Việt Nam đã là giá trị rất lớn rồi", anh Dũng nói.
Theo anh, những phần việc kiều bào - đặc biệt các nhà khoa học trẻ - làm cho Việt Nam hầu như không được tính vào công việc chính ở nước sở tại, phần lớn là việc làm thêm. Người làm phải tự thu xếp thời gian, tự chịu chi phí, và không có gì chứng minh phần đóng góp ấy tồn tại trong hồ sơ nghề nghiệp của họ.
Vì vậy anh đề nghị thí điểm cơ chế công nhận cho những đóng góp từ xa thông qua các dự án cụ thể. Sau công nhận mới đến phần hỗ trợ chi phí, cơ sở hạ tầng, nguồn dữ liệu và thủ tục hành chính.
Không chỉ điều kiện làm việc, khung pháp lý cũng là vấn đề các nhà khoa học rất quan tâm khi trở về.

PGS.TS Phạm Đức Sơn trao đổi với đồng nghiệp liên quan đến một công trình nghiên cứu về ứng dụng AI vào quy trình chụp X-quang lồng ngực - Ảnh: NVCC
PGS.TS Phạm Đức Sơn - chuyên ngành AI, Đại học Curtin (Úc) - cho biết mỗi lần chuẩn bị một hồ sơ xin tài trợ nghiên cứu chung giữa hai nước, câu hỏi đến sớm nhất từ các bên tham gia luôn là quyền sở hữu trí tuệ sẽ được xử lý ra sao.
"Cần có hướng dẫn, khung rõ ràng để hai nước cùng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, giúp người tham gia yên tâm hơn", ông nói.
Tương tự là quy định về đạo đức nghiên cứu, vốn mỗi nước một chuẩn, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe. Theo ông, nếu hai nhà nước thống nhất được một khung chung thì nhiều dự án mới có thể cất cánh.
Chính những rào cản trên đã khiến nhiều dự án dừng lại ở mức ký kết ghi nhớ mà chưa vận hành được trên thực tế, theo ông Sơn.
Cơ hội nhờ đóng góp từ xa

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng phát biểu tại Hội nghị quán triệt nghị quyết 23, diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại giao 33 ngày 7-8 - Ảnh: DANH KHANG
Việc Nghị quyết 23 nêu rõ yêu cầu bảo đảm điều kiện tham gia lâu dài hoặc đóng góp linh hoạt từ xa, chính thức tạo điều kiện để trí thức Việt kiều có thể đóng góp mà không gián đoạn công việc ở nước sở tại.
Quan điểm này được các nhà khoa học ở nước ngoài đón nhận rõ rệt.
Rất nhiều nhà khoa học người Việt ở nước ngoài đang giữ những vị trí lãnh đạo, nghiên cứu, giảng dạy. Họ dẫn dắt các nhóm nghiên cứu lớn, có nhiều kinh nghiệm quốc tế, nhưng không phải ai cũng có điều kiện để bỏ việc, về nước làm việc lâu dài. Điều đó không có nghĩa là họ không thể đóng góp. Đóng góp từ xa là điều hoàn toàn khả thi.
TS HÀN VIỆT CƯỜNG - Đại học Curtin, Úc
Để hợp tác từ xa thành công, TS Hàn Việt Cường - nhà khoa học trẻ chuyên về bệnh học thực vật tại Đại học Curtin, Úc - nhấn mạnh cần một cơ chế kết nối minh bạch để chuyên gia ở nước ngoài biết mình có thể tham gia vào đâu, bằng cách nào và tạo ra giá trị cụ thể gì cho các đơn vị trong nước.
"Quan trọng nhất là cả hai phía cần sẵn sàng, cởi mở để đi vào thực chất. Giống như tình yêu không thể chỉ đến từ một phía. Nếu chỉ từ một phía thì dần dần sẽ nhạt, khó đi đến thực chất", TS Cường phân tích.
Cũng theo anh Cường, trí thức Việt Nam ở nước ngoài có thể hỗ trợ đồng nghiệp trong nước trong các phần việc như đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, hợp tác nghiên cứu, cùng phản biện đề tài hay kết nối đối tác quốc tế với nhóm nghiên cứu trong nước.
Tuy nhiên điều anh cho là bền vững nhất không nằm ở bản thân từng đề tài, mà ở việc xây dựng năng lực nghiên cứu trong nước.
"Khi các nhà khoa học Việt Nam và Úc cùng làm việc, phát triển và học được các kỹ năng đó, họ sẽ tự xây dựng được năng lực nghiên cứu cho riêng mình", TS Cường phân tích.

PGS.TS Dương Minh Hải khảo sát tình hình nước biển để cải tiến hệ thống nước ngọt trên đảo trong chuyến thăm Trường Sa tháng 4-2026 - Ảnh: NGỌC ĐỨC
PGS.TS Dương Minh Hải đề nghị thể chế hóa cách làm đó thành mô hình "hai hệ sinh thái - một chương trình nghiên cứu": một giáo sư người Việt ở nước ngoài không nhất thiết phải từ bỏ hoàn toàn vị trí hiện tại mà vẫn có thể dẫn dắt một nhóm nghiên cứu tại Việt Nam.
Như vậy, theo ông, Việt Nam không chỉ thu hút một con người mà kết nối được cả mạng lưới tri thức, phòng thí nghiệm, sinh viên, doanh nghiệp và đối tác quốc tế đi cùng họ.
Ông Hải lấy ví dụ chính Singapore đã xây một hạ tầng như thế. Tại khu nghiên cứu CREATE, các đại học hàng đầu thế giới như MIT, Cambridge, ETH Zurich hay Đại học Kỹ thuật Munich đặt nhóm nghiên cứu ngay tại đảo quốc, cùng làm việc với nhà khoa học bản địa trên những bài toán chiến lược.
Qua đó, Singapore không chỉ mời một giáo sư, mà tạo chỗ để cả mạng lưới của người đó cùng hoạt động.
Hàn Quốc có chương trình Brain Pool mời nhà khoa học đang ở nước ngoài về làm việc tại các trường, viện và doanh nghiệp nước này với thời lượng linh hoạt, từ 6 tháng đến 3 năm, thay vì buộc họ từ bỏ hẳn sự nghiệp bên ngoài.
Mong muốn nhận bài toán khó

Hệ thống lọc nước mặn thành nước ngọt được PGS.TS Dương Minh Hải tham gia nghiên cứu, phát triển và đã được triển khai tại Việt Nam - Ảnh: NVCC
Các văn bản, chỉ đạo mới về công tác thu hút nhân tài khẳng định rõ việc tăng cường trao quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu, công khai các bài toán cụ thể và gắn nhân tài với việc giải quyết những bài toán ấy.
Đó cũng là điều các chuyên gia kiều bào mong đợi nhất: được tin tưởng giao cho những bài toán khó.
PGS.TS Phạm Đức Sơn cho biết ông đang xây dựng một mô hình trí tuệ nhân tạo chẩn đoán bệnh tim cùng các bác sĩ ở Perth (Tây Úc), chủ yếu cho bệnh nhân lớn tuổi. Sau khi trao đổi với các bác sĩ Việt Nam, ông mở rộng đề tài sang cả bệnh nhi.
Nhưng một mô hình huấn luyện bằng dữ liệu ở Úc không mặc nhiên dùng được cho bệnh nhân Việt Nam. Đặc điểm dân số và bệnh lý mỗi nơi một khác, nên để mô hình chạy được ở nhiều nơi cần cả giải pháp kỹ thuật riêng lẫn dữ liệu tại chỗ. Đó cũng chính là chỗ Việt Nam có thể tham gia.
PGS.TS PHẠM ĐỨC SƠN - Đại học Curtin, Úc
Nếu Việt Nam có thể cung cấp dữ liệu, bác sĩ chuyên gia hỗ trợ xây dựng và đánh giá dữ liệu, sẽ giúp Việt Nam tận dụng được nguồn lực chuyên gia ở nước ngoài để giải quyết bài toán trong nước
Để phát triển kỹ năng công nghệ của thế hệ trẻ Việt, TS Lại Tuấn Dũng mong muốn đưa những giáo trình tin học cơ bản anh đã học hỏi, xây dựng từ hệ thống giáo dục Úc về thí điểm tại bậc phổ thông trong nước.
Mô hình này, theo anh, tập trung vào phát triển tư duy thay vì dạy học sinh các dòng code khô khan. Tuy nhiên anh còn gặp vướng mắc ở chỗ chưa có một kênh chính thống để làm việc đó và cũng chưa có cách đo hiệu quả từng thí điểm trước khi nhân rộng.
5 thành phần giải quyết bài toán quốc gia

Các đại biểu kiều bào tiêu biểu dự tọa đàm “Phát huy nguồn lực kiều bào trong tận dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho phát triển TP.HCM” - Ảnh: THANH HIỆP
PGS.TS Dương Minh Hải nhấn mạnh chủ trương đã có, nhưng vẫn cần được cụ thể hóa qua những đơn đặt hàng quốc gia cụ thể.
Nhà nước, các cơ quan cần xây dựng một cổng bài toán quốc gia trên nền tảng số, nơi các bộ, địa phương, tập đoàn công khai những vấn đề công nghệ thực sự cần giải quyết. Chuyên gia người Việt ở bất cứ đâu có thể đề xuất giải pháp, lập liên minh với nhóm nghiên cứu trong nước và doanh nghiệp rồi cùng cạnh tranh để nhận nhiệm vụ.
Ông đề xuất một chương trình giải quyết các bài toán lớn cấp quốc gia gồm năm thành phần. Trước hết, mỗi bài toán phải có mục tiêu và mốc công nghệ rõ ràng.
Các bài toàn cần có ngân sách nhiều năm và cho phép chuyên gia kiều bào làm chủ nhiệm hoặc đồng chủ nhiệm dù không cư trú toàn thời gian tại Việt Nam.
Ngoài ra, các bài toán phải có doanh nghiệp tham gia từ đầu và quy định rõ quyền sở hữu trí tuệ cùng lợi ích nếu công nghệ được thương mại hóa.
Cách làm này không xa lạ. Ông dẫn mô hình ARPA-E của Mỹ, nơi các giám đốc chương trình được trao quyền xác định vấn đề năng lượng quy mô quốc gia, chọn ý tưởng đột phá và quản lý bằng những mốc kỹ thuật cụ thể.
Ông Hải đúc kết để các quyết sách mới có sức hút thì cần ba cái đủ: môi trường đủ mạnh, quyền tự chủ đủ lớn và niềm tin đủ lâu dài.
Đừng xây phòng lab rồi mới đi tìm người. Hãy chọn bài toán lớn, chọn người giỏi, rồi xây hệ sinh thái quanh họ. Cũng đừng chỉ mời người giỏi về Việt Nam. Hãy giao cho họ những việc đủ lớn để họ muốn cùng Việt Nam làm.
PGS. TS Dương Minh Hải - Đại học Quốc gia Singapore kết luận

Đọc tiếp
Về trang Chủ đề