Muốn có đại học tinh hoa, Việt Nam phải bắt đầu từ đâu?

🗓️ 2026-08-16 📁 education 📝 ⏱️ 👁️ : -

 - Ảnh 1.

Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thăm Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (POSTECH) của Hàn Quốc tháng 5-1986 - Ảnh (tư liệu): Pohangnews

Các quốc gia như Singapore, Hàn Quốc và Đức đã cho thấy không có công thức chung nào cho một đại học tinh hoa, chỉ có sự kiên trì và lựa chọn đúng đường đi.

Từ khung phân tích nhân tài, nguồn lực và quản trị, câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là liệu các đại học trong nước đã hội đủ những điều kiện đó và cần bắt đầu từ đâu.

Thực trạng và bài học chọn đường

Theo GS Nguyễn Minh Thọ, người đang giảng dạy tại Đại học Leuven, Bỉ, muốn có những nhà khoa học trẻ nghiên cứu giỏi, cần có những tấm gương nghiên cứu giỏi đi trước, đúng như khẩu hiệu của Đại học Humboldt Berlin (Đức): người thầy giỏi là người nghiên cứu giỏi.

Các chính phủ thường chọn một trong ba con đường: nâng cấp một số đại học hiện có, sáp nhập nhiều cơ sở thành một thực thể mới đủ sức tạo cộng hưởng, hoặc xây dựng hoàn toàn từ đầu. Nhưng thiết lập khung quản trị cho một cơ sở hoàn toàn mới thường ít phức tạp hơn so với việc cải tổ một đại học đã có sẵn bộ máy và thói quen cũ

Ông Jamil Salmi, cựu điều phối viên giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới

Ông đặt câu hỏi Việt Nam có bao nhiêu người thầy như thế, trong bối cảnh một số nghiên cứu viên xuất sắc tiếp tục ra nước ngoài làm việc.

Sự kiện hai nhà toán học trẻ của Trung Quốc là Deng Yu và Wang Hong vừa được trao huy chương toán học Fields năm 2026, theo ông, giống như một tia chớp làm lộ rõ tầm quan trọng của một môi trường học thuật thật sự lôi cuốn, điều mà các trường đại học Việt Nam hiện còn thiếu.

Bức tranh thực trạng này đặt ra câu hỏi Việt Nam nên bắt đầu từ đâu. Ông Jamil Salmi, cựu điều phối viên giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới, trong cuốn sách xuất bản năm 2011 phân tích rằng các chính phủ thường chọn một trong ba con đường: nâng cấp một số đại học hiện có, sáp nhập nhiều cơ sở thành một thực thể mới đủ sức tạo cộng hưởng, hoặc xây dựng hoàn toàn từ đầu.

Theo ông, thiết lập khung quản trị cho một cơ sở hoàn toàn mới thường ít phức tạp hơn so với việc cải tổ một đại học đã có sẵn bộ máy và thói quen cũ, một gợi ý đáng cân nhắc cho Việt Nam khi lựa chọn mô hình triển khai.

Tuy nhiên, dù chọn con đường nào, ông Salmi nhấn mạnh yếu tố thời gian vẫn là điều kiện bắt buộc: phải mất tới 5 thập kỷ để hệ thống Viện Công nghệ Ấn Độ và Đại học Quốc gia Singapore đạt được vị thế hiện tại.

Đây là lời nhắc nhở cho bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam, rằng xây dựng đại học tinh hoa đòi hỏi một tầm nhìn xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ chính sách, chứ không thể kỳ vọng kết quả trong vài năm.

Dù vậy, ông Salmi cũng chỉ ra một số "yếu tố tăng tốc" mà các đại học mới nổi có thể vận dụng. Đầu tiên là khai thác nguồn lực từ cộng đồng học giả ở nước ngoài, cách mà Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang của Hàn Quốc và Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong đã áp dụng để nhanh chóng xây dựng thực lực học thuật.

Thứ hai là sử dụng tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy chính, điều đã giúp Đại học Quốc gia Singapore thu hút lượng lớn giảng viên nước ngoài trình độ cao.

Thứ ba là tập trung vào một số lĩnh vực mũi nhọn để nhanh chóng đạt khối lượng tới hạn về năng lực nghiên cứu, thay vì dàn trải nguồn lực cho tất cả các ngành cùng lúc.

Thứ tư là sử dụng phương pháp đối sánh chuẩn, neo chiến lược phát triển vào việc so sánh trước hết với các đại học hàng đầu trong nước, sau đó mới mở rộng ra quốc tế.

 - Ảnh 2.

Hai nhà toán học trẻ của Trung Quốc vừa đoạt huy chương Fields là Deng Yu (thứ nhất từ trái sang), Wang Hong (thứ nhất từ phải sang), tại Philadelphia, Mỹ, ngày 23-7-2026 - Ảnh: TÂN HOA XÃ

Đại học tinh hoa có khả năng dẫn dắt

Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) làm giảm giá trị tương đối của những công việc mang tính thực thi và tăng giá trị của năng lực tạo tri thức, TS Phương Nguyễn, chuyên gia nhân lực và giáo dục, nghiên cứu viên tại Đại học Siegen - Frankfurt (Đức), cho rằng Việt Nam không thể chỉ mở rộng quy mô đào tạo đại trà, mà cần đồng thời xây dựng một tầng đại học tinh hoa có khả năng dẫn dắt.

Theo bà, nghị quyết 57-NQ/TW năm 2024 đã đặt cơ chế đặc thù thu hút chuyên gia quốc tế và người Việt ở nước ngoài trình độ cao, cùng chủ trương xây trường và trung tâm đào tạo chuyên sâu về AI.

Nhưng cần phải rút ngắn khoảng cách giữa chính sách khung và thực thi, như thang bảng lương viên chức áp dụng đồng loạt khiến nhiều trường chưa thể trả mức lương đủ cạnh tranh cho chuyên gia quốc tế.

Điều cần bổ sung, theo bà, là cơ chế tự chủ học thuật đặc thù cho nhóm trường trọng điểm đã qua thẩm định, thoát khỏi khung lương viên chức, được tự chủ tuyển dụng và lập quỹ nghiên cứu độc lập.

Đối với khu vực tư, bà Phương Nguyễn cho rằng chiến lược cốt lõi là chuyển đổi từ đại học giảng dạy thuần túy sang đại học nghiên cứu ứng dụng, tận dụng lợi thế không bị ràng buộc bởi khung biên chế để liên minh với tập đoàn công nghiệp, phù hợp trực tiếp với Chương trình phát triển nguồn nhân lực bán dẫn theo Quyết định 1017/QĐ-TTg năm 2024, đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 kỹ sư và cử nhân ngành bán dẫn đến năm 2030.

Về nguồn thu, bà lưu ý việc thương mại hóa phát minh và sở hữu trí tuệ là hướng đi đúng về dài hạn nhưng không nên kỳ vọng là lời giải tài chính ngắn hạn, vì điều kiện tiên quyết là xây dựng hệ thống văn phòng chuyển giao công nghệ chuyên nghiệp, hạ tầng mà Việt Nam hiện còn thiếu.

Chiến lược và điều kiện nền

Bên cạnh chiến lược thể chế, TS Bùi Anh Tuấn Kiệt, chuyên gia giáo dục và lãnh đạo, cựu cố vấn giáo dục cho Bộ Giáo dục Kuwait, hiện sống và làm việc tại California (Mỹ), nhấn mạnh một đại học thành công không dừng lại ở những tòa nhà hào nhoáng hay tên tuổi giáo sư.

Theo ông, chương trình đào tạo tốt phải cung cấp cho sinh viên trải nghiệm thực tế với thị trường lao động, như cách Đại học Duke (Mỹ) đẩy mạnh việc áp dụng cơ hội thực tập vào chương trình giảng dạy.

Ông cũng cho rằng đây là điểm ngành giáo dục Việt Nam cần chú ý nhiều hơn: các trường đại học lớn trên thế giới thường có dịch vụ tư vấn ngành học, hỗ trợ tìm việc, tư vấn sức khỏe tinh thần và hỗ trợ tài chính cho sinh viên.

Sau cùng, ông cho rằng trường đại học cần có chiến thuật lâu dài liên kết với doanh nghiệp để hiểu nhu cầu thị trường lao động, qua đó tạo ra một hệ sinh thái đào tạo nhân lực thay vì chỉ hỗ trợ nhau về tài chính.

Những chiến lược cụ thể này cần đặt trong một điều kiện nền rộng hơn. Ông Jamil Salmi nhấn mạnh không một đại học tinh hoa nào vận hành tách biệt khỏi bối cảnh quốc gia xung quanh nó.

Qua phép so sánh giữa Đại học Chile công lập và Đại học Công giáo Giáo hoàng Chile tư thục, dù nhận tỉ lệ ngân sách công tương đương, trường tư lại được hưởng sự linh hoạt lớn hơn nhiều nhờ ít bị ràng buộc bởi quy định hành chính.

Bài học rút ra, theo ông Salmi, là quyền tự chủ mới là yếu tố phân định kết quả giữa các đại học, chứ không nằm ở việc trường đó là công lập hay tư thục.

Cần hệ sinh thái giáo dục rộng lớn

Theo ông Jamil Salmi, hiệu quả của một đại học nghiên cứu hàng đầu phụ thuộc vào cả một hệ sinh thái giáo dục đại học rộng lớn hơn, bao gồm môi trường chính trị - kinh tế ổn định, khung pháp lý, cơ chế đảm bảo chất lượng, sự kết nối giữa giáo dục phổ thông và đại học, cùng hạ tầng số - viễn thông.

Ông dẫn chứng câu chuyện của Nigeria: dù đặt mục tiêu có 20 đại học đẳng cấp thế giới vào năm 2020, nhưng khó đạt được nhiều tiến bộ nếu không giải quyết được tình trạng mất điện thường xuyên và khả năng tiếp cận internet còn hạn chế trên toàn hệ thống đại học.

Đọc tiếp

Về trang Chủ đề