Mở không gian phát triển, tạo sức bật kinh tế vùng

🗓️ 2026-09-11 📁 business-finance 📝 ⏱️ 👁️ : -
Chú thích ảnh
Làng nghề chè búp khô gắn với sản phẩm OCOP tại xã Suối Hai, thành phố Hà Nội. Ảnh tư liệu: Phan Phương/TTXVN

Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Nghị quyết nêu rõ, sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh 6 vùng kinh tế - xã hội, vai trò của phát triển vùng đã được nhận thức rõ hơn, liên kết vùng được tăng cường, tiềm năng và lợi thế của từng địa phương từng bước được khai thác.

Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy nhiều điểm nghẽn: quy hoạch còn chồng lấn, thiếu đồng bộ; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số cực tăng trưởng chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt và liên kết vùng chưa thật sự hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 27 đặt phát triển vùng vào vị trí là một phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, đồng thời là công cụ để tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, khi quy mô nhiều địa phương được mở rộng, tạo điều kiện tích hợp tốt hơn các không gian đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, biển, cửa khẩu và logistics.

Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, chuyên gia kinh tế, giảng viên Trường đại học Nguyễn Tất Thành, lâu nay liên kết vùng dù đã được đề cập nhiều nhưng trên thực tế vẫn chủ yếu triển khai theo địa giới hành chính. Mỗi địa phương tự quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuẩn bị nguồn lực, thu hút đầu tư; thậm chí có tình trạng nhiều địa phương cùng theo đuổi những mục tiêu và ngành nghề tương tự dù lợi thế khác nhau. Điều này dễ dẫn đến đầu tư phân tán, trùng lặp và thiếu kết nối.

Đặc biệt, điểm mới của Nghị quyết số 27-NQ/TW là chuyển từ phát triển riêng lẻ từng địa phương sang xem toàn vùng như một hệ sinh thái thống nhất. Trong không gian đó, mỗi địa phương được phân vai theo chức năng, tiềm năng và lợi thế, đồng thời kết nối với nhau thông qua chuỗi giá trị, hạ tầng, lao động, dữ liệu và các hành lang kinh tế.

Cách tiếp cận này cũng đồng nghĩa với việc không phải địa phương nào cũng cần phát triển đầy đủ mọi ngành, lĩnh vực hay cùng theo đuổi một cơ cấu kinh tế giống nhau. Địa phương có thế mạnh nông nghiệp có thể tập trung phát triển vùng nguyên liệu; nơi có lợi thế công nghiệp đẩy mạnh chế biến, chế tạo; các đô thị lớn đảm nhiệm vai trò trung tâm tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ, đào tạo và logistics.

Dẫn chứng về phía địa phương, theo ông Lê Trung Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), Nghị quyết số 27-NQ/TW đang mở ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng phát huy thế mạnh và tăng cường liên kết giữa các địa phương. Thực tế 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy Đồng bằng sông Hồng đang hình thành mô hình phát triển dựa trên ba động lực là công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao; logistics và hạ tầng kết nối; đổi mới sáng tạo và dịch vụ hiện đại. Đây cũng là cơ sở để hình thành những cực tăng trưởng mới, có sức lan tỏa rộng hơn trong toàn vùng và cả nước.

Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng xác định hoàn thiện cơ chế phối hợp, điều phối và huy động nguồn lực vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là một khâu đột phá. Đối với các công trình liên vùng, nguyên tắc được đặt ra là các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi; những công trình có ý nghĩa chiến lược quốc gia phải có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm.

TS. Huỳnh Thanh Điền cho rằng, liên kết vùng trước hết phải được thiết kế từ tư duy hoạch định chính sách và giao mục tiêu của Trung ương. Các chủ trương, quy hoạch, chương trình đầu tư và chỉ tiêu phát triển cần được xem xét trên tổng thể vùng, sau đó mới phân bổ thành nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương. Nếu mục tiêu và nguồn lực vẫn được giao riêng lẻ theo từng tỉnh, thành phố thì rất khó khắc phục tư duy cục bộ và tình trạng cạnh tranh lẫn nhau.

Từ mục tiêu chung của vùng, cần xác định rõ chức năng, lợi thế và trách nhiệm của từng địa phương, đồng thời hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển vùng. Với mỗi dự án liên vùng, cần có một cơ quan hoặc địa phương làm đầu mối, chịu trách nhiệm xuyên suốt từ chuẩn bị, huy động vốn, triển khai đến vận hành.

Nguyên tắc “cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi” cũng phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tài chính rõ ràng, từ mức đóng góp, phân chia nguồn thu, chi phí vận hành đến trách nhiệm xử lý rủi ro. Theo các chuyên gia kinh tế, Hội đồng điều phối vùng muốn hoạt động thực chất phải có thực quyền, bộ phận chuyên trách, nguồn lực hoạt động và hệ thống dữ liệu dùng chung; đồng thời, được tham gia lựa chọn dự án ưu tiên, điều phối nguồn lực, giám sát tiến độ và xử lý vướng mắc.

Theo TS. Huỳnh Thanh Điền, mỗi dự án hạ tầng lớn cần được xem như một “đơn hàng phát triển công nghiệp”. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị phải xác định những công nghệ, thiết bị và công đoạn mà doanh nghiệp trong nước có thể tham gia và từng bước làm chủ; đồng thời xây dựng lộ trình nâng tỷ lệ nội địa hóa phù hợp với các cam kết quốc tế. Chính sách đấu thầu cũng cần tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn, không chỉ ở các công đoạn có giá trị thấp. Tiêu chí lựa chọn cần tính đến giá trị tạo ra trong nước, mức độ chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, khả năng sử dụng nhà cung cấp nội địa và hiệu quả trong toàn bộ vòng đời dự án.

Cùng với đó, cần hình thành mạng lưới liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học và các cụm công nghiệp hỗ trợ dọc các hành lang kinh tế. Khi đó, đầu tư hạ tầng không chỉ tạo ra công trình mà còn trở thành quá trình tích lũy công nghệ, kinh nghiệm và năng lực sản xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.

Để Nghị quyết số 27-NQ/TW sớm đi vào cuộc sống, theo TS. Huỳnh Thanh Điền, trước hết cần có quy hoạch vùng chất lượng, phân vai rõ cho từng địa phương và cụ thể hóa bằng các chương trình, dự án có đầu mối, nguồn lực, tiến độ và trách nhiệm rõ ràng. Cùng với đó là luật hóa cơ chế liên kết vùng, xây dựng các quy chuẩn chung về quy hoạch, hạ tầng, môi trường và dữ liệu, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách khác nhau.

Nghị quyết số 27-NQ/TW vì vậy không chỉ mở ra một cách tiếp cận mới về không gian phát triển, mà còn đặt ra yêu cầu thay đổi cách phân bổ nguồn lực, tổ chức đầu tư và đánh giá hiệu quả tăng trưởng. Khi mỗi địa phương phát huy đúng lợi thế, các cực tăng trưởng thực sự dẫn dắt và cơ chế điều phối đủ mạnh để kết nối nguồn lực, không gian phát triển vùng sẽ không còn là “phép cộng” của những nền kinh tế địa phương, mà trở thành một chỉnh thể thống nhất, có khả năng tạo sức bật mới cho tăng trưởng quốc gia.