Lợi thế về rừng và các dự án tín chỉ các-bon
Bên cạnh đó, thành phố còn có hàng chục ha rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ (Vườn quốc gia Côn Đảo, Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu, rừng phòng hộ Núi Cậu...), là những vùng rừng có giá trị lớn về đa dạng sinh học, phòng hộ và năng lực hấp thụ các-bon. Theo các chuyên gia, rừng ngập mặn Cần Giờ có khả năng hấp thụ, lưu giữ khối lượng các-bon lớn, có thể gấp ba lần so với các hệ sinh thái rừng thông thường trên đất liền. Đặc biệt, phần lớn lượng các-bon được lưu giữ lâu dài trong lớp đất ngập mặn và trầm tích tự nhiên, giữ vai trò quan trọng về giảm phát thải khí nhà kính.
Nhờ đó, thành phố có nhiều cơ hội để khai thác, “đánh thức” tiềm năng kinh tế từ nguồn tài nguyên rừng. Với Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng) và Thông tư số 31/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Quy định phương pháp định giá rừng, hướng dẫn định khung giá rừng và phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng), cùng có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, thành phố có điều kiện thuận lợi để phát triển các dự án tín chỉ các-bon từ rừng, góp phần thúc đẩy hình thành thị trường các-bon tại Việt Nam trong tương lai gần.
Để chuyển hóa tiềm năng, lợi thế về rừng thành nguồn lực phát triển các dự án tín chỉ các-bon, theo các chuyên gia, thành phố cần chuẩn hóa dữ liệu tài nguyên rừng và xây dựng hệ thống quản lý đáp ứng các yêu cầu của thị trường các-bon; rà soát, cập nhật cơ sở dữ liệu rừng theo mô hình quản lý mới; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, ảnh viễn thám, hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các công cụ giám sát hiện đại nhằm theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, phục vụ tính toán và kiểm chứng lượng các-bon hấp thụ. Dữ liệu càng đầy đủ, chính xác và có thể kiểm chứng độc lập thì các dự án các-bon rừng càng dễ được thị trường chấp nhận.
Thành phố cần xây dựng đường cơ sở, xác định trữ lượng các-bon và lựa chọn những khu vực có tiềm năng để triển khai các dự án thí điểm. Các đơn vị quản lý rừng xác định rõ diện tích, trạng thái, trữ lượng các-bon, đáp ứng các tiêu chuẩn về đo đạc, báo cáo và kiểm chứng (MRV). Đây là lĩnh vực mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải được đào tạo bài bản về lâm nghiệp, biến đổi khí hậu và tài chính các-bon. Cùng với đó, thành phố tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế để tiếp cận công nghệ, kinh nghiệm xây dựng dự án các-bon; từ đó, chủ động và sớm nghiên cứu cơ chế thí điểm giao dịch tín chỉ các-bon, có chính sách hỗ trợ nguồn vốn tín dụng xanh cho các đơn vị tiên phong triển khai dự án.
Về chính sách trong dài hạn, khi thị trường tín chỉ các-bon đã hình thành, nguồn thu từ hoạt động giao dịch này cần được ưu tiên tái đầu tư cho công tác bảo vệ, phục hồi rừng và hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng tham gia giữ rừng; qua đó, tạo ổn định lâu dài cho công tác quản lý tài nguyên rừng và sự phát triển của thị trường tín chỉ các-bon.