Khơi dòng vốn, tăng sức bền ngân hàng - Bài 1: Dẫn dòng tín dụng vào đúng động lực tăng trưởng
Bài 1: Dẫn dòng tín dụng vào đúng động lực tăng trưởng
Trong 7 tháng qua, tín dụng tiếp tục tăng khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ở mức cao. Tuy nhiên, áp lực chi phí đầu vào và khả năng hấp thụ vốn chưa đồng đều khiến bài toán những tháng cuối năm không chỉ là mở rộng dư nợ mà còn phải bảo đảm vốn đến đúng lĩnh vực, tạo được doanh thu và duy trì khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Tăng dư nợ nhưng không hạ chuẩn tín dụng
Đến ngày 29/7/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20,15 triệu tỷ đồng, tăng 8,38% so với cuối năm 2025. Kết quả này cho thấy, tín dụng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng. Tuy nhiên, so với định hướng tăng trưởng khoảng 15% trong cả năm, hệ thống ngân hàng vẫn còn một khoảng đáng kể phải thực hiện trong những tháng còn lại.
Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), mức 15% không phải chỉ tiêu bất biến mà có thể được điều chỉnh tăng hoặc giảm, căn cứ vào diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống. Cách điều hành này cho thấy, yêu cầu đối với tăng trưởng tín dụng đã thay đổi.
Để hệ thống các tổ chức tín dụng có đủ năng lực cung ứng lượng vốn khổng lồ ra thị trường mà vẫn duy trì được các hệ số an toàn, việc nâng cao năng lực tài chính là yêu cầu cấp bách. Mới đây nhất, Nghị định 316/2026/NĐ-CP được ban hành đã tháo gỡ một điểm nghẽn lớn về vốn.
Theo đó, các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước được phép trích lập không quá 40% phần lợi nhuận còn lại vào quỹ đầu tư phát triển, cao gấp đôi mức trần hiện hành. Quyết sách này tạo dư địa lớn giúp nhóm ngân hàng lớn giữ lại lợi nhuận để bổ sung vốn chủ sở hữu, từ đó nâng cao hệ số an toàn vốn và chủ động hơn trong việc cấp tín dụng cho các dự án trọng điểm mà không phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.
Điều này đồng nghĩa là việc mở rộng dư nợ vẫn cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng, nhưng không thể tách rời khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế và năng lực quản trị rủi ro của từng tổ chức tín dụng. Nếu tín dụng tăng nhanh hơn khả năng tạo doanh thu và dòng tiền của người vay, áp lực nợ xấu có thể xuất hiện sau một độ trễ, làm suy giảm chất lượng tài sản và hạn chế khả năng cung ứng vốn của chính ngân hàng trong giai đoạn tiếp theo.
Tại toạ đàm về vai trò của ngành ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế diễn ra mới đây, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà đã nhìn nhận, nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn, trong khi khả năng hấp thụ vốn tại một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng. Vì vậy, mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng khoản vay, kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và duy trì an toàn hệ thống.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến đặt ra, vấn đề không phải ngân hàng có nên tiếp tục cho vay hay không mà là lựa chọn đúng nhu cầu vốn có khả năng chuyển hóa thành sản lượng, đơn hàng và nguồn trả nợ. Dự án có thủ tục pháp lý đầy đủ, thị trường đầu ra rõ ràng và dòng tiền có thể kiểm chứng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng đẩy nhanh thẩm định, giải ngân. Ngược lại, việc gia tăng tín dụng cho những phương án đầu tư chưa hoàn thiện hoặc phụ thuộc quá lớn vào kỳ vọng tăng giá tài sản có thể làm tăng rủi ro cho cả người vay và tổ chức tín dụng.
Theo số liệu công bố của NHNN, cơ cấu tín dụng hiện nay đã phản ánh phần nào định hướng ưu tiên khu vực sản xuất. Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% dư nợ của nền kinh tế tập trung vào sản xuất, kinh doanh. Trong đó, tín dụng nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,09%; doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,84%. Tín dụng xuất khẩu tăng 20,53%, còn tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 26,36%.
Thế nhưng, tỷ trọng tín dụng dành cho sản xuất, kinh doanh mới phản ánh hướng phân bổ vốn ở cấp độ tổng thể. Hiệu quả cuối cùng còn phụ thuộc vào chất lượng dự án, vòng quay vốn, khả năng tiêu thụ sản phẩm và mức độ liên kết giữa doanh nghiệp với thị trường.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, điểm nghẽn không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn. Đầu tháng 8/2026, NHNN cho biết đang hoàn thiện hướng dẫn triển khai chương trình tín dụng khoảng 220.000 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng một số lĩnh vực ưu tiên. Hiệu quả của chương trình sẽ phụ thuộc vào tiêu chí lựa chọn khách hàng, thời gian xử lý hồ sơ và mức độ phù hợp giữa kỳ hạn khoản vay với chu kỳ kinh doanh.
Nếu điều kiện vay dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm, một bộ phận doanh nghiệp có phương án khả thi nhưng thiếu bất động sản thế chấp vẫn khó tiếp cận vốn. Vì vậy, chương trình cần kết hợp bảo lãnh tín dụng, tài trợ chuỗi cung ứng và đánh giá khả năng trả nợ dựa trên dòng tiền, nhưng không hạ chuẩn tín dụng để chạy theo mục tiêu giải ngân.
Giảm chi phí vốn từ cả hai phía
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu NHNN triển khai các giải pháp ổn định lãi suất, bảo đảm thanh khoản, phấn đấu giảm lãi suất cho vay và chi phí vốn của nền kinh tế; đồng thời điều hành tín dụng phù hợp với khả năng hấp thụ vốn, kiểm soát chặt các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Chỉ đạo của Thủ tướng đặt hệ thống ngân hàng trước yêu cầu cân bằng giữa hỗ trợ người vay và duy trì an toàn tài chính.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia tài chính cho rằng, dư địa giảm lãi suất phụ thuộc trước hết vào chi phí vốn đầu vào. Tiến sĩ Nguyễn Kế Nghĩa (Đại học Kinh tế Quốc dân) lưu ý rằng tín dụng năm 2025 tăng 19,1%, cao hơn mức tăng 14,1% của huy động vốn, khiến tỷ lệ cho vay trên huy động của toàn ngành chịu áp lực. Theo ông, diễn biến lãi suất cần được nhìn trong tổng thể các mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, bảo đảm thanh khoản và hỗ trợ tăng trưởng, thay vì chỉ xem việc giảm lãi suất như một quyết định hành chính đơn lẻ.
Phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Kế Nghĩa cho thấy, yêu cầu hạ chi phí vay cần đi cùng với củng cố nguồn vốn và kiểm soát chênh lệch kỳ hạn. Khi nhu cầu tín dụng tăng nhanh hơn huy động, ngân hàng phải cạnh tranh tiền gửi hoặc tìm kiếm nguồn vốn có chi phí cao hơn. Nếu giảm mạnh lãi suất cho vay trong khi chi phí đầu vào chưa giảm tương ứng, khả năng trích lập dự phòng, tăng vốn tự có và đầu tư công nghệ có thể bị ảnh hưởng. Do đó, giảm lãi suất thực chất cần dựa trên tiết giảm chi phí vận hành, số hóa quy trình và nâng cao hiệu quả quản trị tài sản - nguồn vốn.
Đối với doanh nghiệp, chi phí vay không chỉ là lãi suất ghi trong hợp đồng. Thời gian hoàn thiện hồ sơ, yêu cầu tài sản bảo đảm, phí liên quan, tiến độ giải ngân và lịch trả nợ đều ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Khoản vay có lãi suất thấp nhưng giải ngân chậm có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ đơn hàng; lịch trả nợ không phù hợp với chu kỳ thu tiền cũng có thể gây áp lực thanh khoản.
Các chuyên gia tài chính cho rằng, ngân hàng cần từng bước chuyển từ mô hình cho vay phụ thuộc chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang đánh giá dựa trên dòng tiền và năng lực kinh doanh. Việc sử dụng dữ liệu vận hành của doanh nghiệp để thẩm định và xây dựng hệ thống cảnh báo sớm sẽ giúp quyết định tín dụng phản ánh sát hơn sức khỏe của người vay.
Ngoài ra, dữ liệu hóa đơn điện tử, khai thuế, đơn hàng, lịch sử thanh toán và dòng tiền qua tài khoản có thể bổ sung căn cứ đánh giá khả năng trả nợ. Với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, ngân hàng có thể dựa vào hợp đồng đầu ra, uy tín của doanh nghiệp đầu chuỗi và các khoản phải thu để thiết kế hạn mức phù hợp. Phương thức này vừa giảm phụ thuộc vào bất động sản thế chấp, vừa giúp kiểm soát mục đích sử dụng vốn.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp phải nâng mức độ minh bạch tài chính. Báo cáo kế toán thiếu nhất quán, giao dịch khó kiểm chứng hoặc kế hoạch sử dụng vốn không rõ ràng sẽ làm tăng chi phí thẩm định và khiến ngân hàng phải áp dụng mức bù rủi ro cao hơn. Chuẩn hóa dữ liệu, quản trị hàng tồn kho, kiểm soát công nợ và duy trì kỷ luật dòng tiền là điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.
Mở rộng tín dụng mới là một nửa của bài toán. Khi vốn vay chưa chuyển hóa thành đơn hàng, doanh thu và nguồn trả nợ, áp lực sẽ quay trở lại bảng cân đối ngân hàng dưới dạng nợ cần chú ý, nợ xấu và chi phí dự phòng. Vì vậy, sau yêu cầu đưa vốn đúng địa chỉ là bài toán nâng khả năng hấp thụ vốn và giữ chất lượng tài sản của hệ thống.
Bài 2: Tiền gửi tăng, chất lượng tài sản chịu sức ép