“Đường ray” chờ dòng vốn
Thị trường tài chính Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý: nền kinh tế không thiếu tiền, mà thiếu một hệ thống dẫn tiền. Tỷ lệ tiết kiệm nội địa thuộc nhóm cao trong khu vực, tài sản tài chính của người dân tăng nhanh cùng tầng lớp trung lưu, nhưng phần lớn khoản tiết kiệm ấy vẫn nằm ở tiền gửi ngắn hạn hoặc các kênh mang tính đầu cơ.
Trong khi đó, những công trình hạ tầng trọng điểm của đất nước lại cần loại vốn có quy mô lớn, kỳ hạn dài, chấp nhận hoàn vốn chậm. Không ở đâu nghịch lý này hiện rõ như trên dự án những tuyến metro (đường sắt đô thị) của TPHCM.
Theo quy hoạch giai đoạn 2026-2030, thành phố xác định 8 tuyến đường sắt đô thị ưu tiên và phải hoàn thành với tổng chiều dài khoảng 255km. Phấn đấu đến năm 2035, thành phố hoàn thành tiếp 7 tuyến và đoạn tuyến với 277km, cộng thêm 171km đường sắt quốc gia, trong đó 2 tuyến Bàu Bàng - Cái Mép và An Bình - Sài Gòn đang được thành phố đề xuất nhận về để tự triển khai. Trong khi chỉ vài tháng trước, mục tiêu đến năm 2030 là 6 tuyến với khoảng 187km, nhu cầu vốn khoảng 17 tỷ USD, nay chiều dài tăng thêm gần 70km. Một phép tính giản đơn cho thấy, nhu cầu vốn của riêng chặng đến năm 2030 có thể vượt 22-23 tỷ USD, tức trên 4 tỷ USD phải giải ngân mỗi năm. Không một kênh vốn đơn lẻ nào ở Việt Nam hiện đủ sức đáp ứng.
Điều đáng mừng, cơ chế đặc thù mà Quốc hội trao cho TPHCM đã phát huy tác dụng, khi Ban Chỉ đạo Phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt trên địa bàn thành phố tại cuộc họp ngày 30-7 đã yêu cầu lập biểu đồ Gantt cho từng dự án, xác định rõ mốc tiến độ, nhiệm vụ, đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp và thời hạn hoàn thành, áp dụng trước cho toàn bộ 8 tuyến của chặng 255km. Vấn đề đặt ra, nếu tiến độ thi công đã có biểu đồ Gantt, thì dòng vốn có biểu đồ của nó chưa? Phiên họp của Ban chỉ đạo đã chỉ đúng hướng khi xác định, ngoài ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, thành phố tập trung huy động vốn thông qua Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM, đồng thời khai thác hiệu quả quỹ đất để tạo nguồn lực đầu tư. Yêu cầu phát triển đường sắt gắn chặt với mô hình đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), cũng là cách tư duy đúng về nguồn thu. Vấn đề là 2 kênh này cần một hạ tầng tài chính mà chúng ta chưa hoàn thiện, bộc lộ qua 4 vướng mắc cốt lõi.
Thứ nhất là lệch pha kỳ hạn. Một tuyến metro có tuổi thọ tài sản 50-100 năm, doanh thu vé không bao giờ đủ bù chi phí đầu tư, khi giá trị thật của nó nằm ở đất đai và năng suất đô thị mà nó tạo ra trong nhiều thập niên. Loại tài sản này cần vốn 20-30 năm, trong khi hệ thống tài chính trong nước vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng với nguồn huy động ngắn hạn.
Thứ hai là thiếu người mua tự nhiên. Metro số 2 đã chuyển hẳn sang đầu tư công bằng ngân sách thành phố, dừng khoản vay ODA nước ngoài… Thành phố đang xây dựng phương án phát hành trái phiếu theo nhu cầu hàng năm, trên nền hạn mức dư nợ vay tối đa khoảng 272.000 tỷ đồng… Nếu người mua cuối cùng của trái phiếu metro vẫn là ngân hàng thương mại, bản chất chỉ là chuyển rủi ro kỳ hạn từ ngân sách sang bảng cân đối của ngân hàng.
Thứ ba là khoảng cách giữa kỳ vọng và dòng tiền thật từ quỹ đất. Nguồn thu từ quỹ đất quanh nhà ga được trông đợi gánh phần lớn nhất trong cấu trúc vốn và tỷ trọng ấy còn tăng mạnh ở giai đoạn sau năm 2030. Đây lại là dòng tiền phụ thuộc chu kỳ bất động sản, tiến độ giải phóng mặt bằng và chất lượng định giá đất.
Thứ tư là những nghĩa vụ chưa hiện lên bảng cân đối. Sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân vào tuyến metro Bến Thành - Cần Giờ cho thấy, vốn tư nhân cần thị trường nợ dài hạn để tái tài trợ, và những hình thức trả chậm về bản chất là chuyển gánh nặng sang ngân sách của 10-15 năm sau…
Để giải bài toán này, TPHCM hành động quyết liệt, song song trên hai mặt trận. Thứ nhất, trái phiếu metro cần lịch phát hành công bố trước nhiều năm, phân kỳ đúng theo tiến độ giải ngân của biểu đồ Gantt, đấu thầu công khai thay vì trông vào bảo lãnh, và có thanh khoản thứ cấp để nhà đầu tư định giá được. Thứ hai, kiến tạo nguồn vốn kiên nhẫn trong nước. Phát triển quỹ hưu trí bổ sung và những sản phẩm hưu trí tự nguyện tạo lợi ích kép rất rõ: người lao động có công cụ tích lũy cho tuổi già, nền kinh tế có lớp vốn với tầm nhìn hàng chục năm. Kèm theo đó là hoàn thiện khung pháp lý, nâng chất lượng công bố thông tin và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
Do đó, thành phố nỗ lực huy động được vốn kỳ hạn dài với chi phí hợp lý; đốc thúc gia tăng tỷ trọng nhà đầu tư tổ chức phi ngân hàng trong tệp người mua; đảm bảo nguồn thu từ đất về đúng hẹn; nghĩa vụ trả chậm nằm trong giới hạn an toàn. Thành phố đã có biểu đồ tiến độ cho từng kilômét đường ray. Việc còn lại là làm sao dòng vốn cũng có một biểu đồ như thế và chạy trước công trường, chứ không đuổi theo sau.
NGUYỄN QUÂN CÁT