Đi Nhật: nợ nần và phạm pháp

🗓️ 2026-08-24 📁 vietnam-general 📝 ⏱️ 👁️ : -

Đi Nhật: nợ nần và phạm pháp

Tô Kiên

Tô Kiên

Chuyên gia Quy hoạch và Thiết kế đô thị

Nhiều ngày nay, đi qua Cục Xuất nhập cảnh và Lưu trú Tokyo, tôi thấy dòng người rồng rắn xếp hàng ngoài hè, tiếng Việt lao xao. Nhiều người trong số họ sắp hết hạn cư trú, đang tìm cách về nước trước 10/9, khi Nghị định 283/2026 có hiệu lực, với mức phạt có thể lên tới 100 triệu đồng.

Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc là ba thị trường trọng điểm tiếp nhận lao động phổ thông Việt Nam ở Đông Á, trong đó Nhật Bản lớn nhất với khoảng 65.000 người sang mỗi năm. Và với hơn 660.000 người, người Việt trở thành cộng đồng người nước ngoài lớn thứ hai tại Nhật.

Tới Nhật từ hai chục năm trước, tôi chứng kiến cộng đồng người Việt tăng nhanh, từ chỗ chủ yếu là một nhóm nhỏ du học sinh và gia đình định cư lâu năm, nay được bổ sung mạnh bởi lao động phổ thông, nhân lực kỹ thuật cao và giới kinh doanh. Người Việt chiếm khoảng trên 40% lao động phổ thông nước ngoài trong một số ngành Nhật có nhu cầu cao, như xây dựng, nông nghiệp hay sản xuất chế tạo.

Suốt bao năm, tôi luôn vui vẻ nói mình là người Việt khi được hỏi từ đâu tới, bởi người Nhật nhìn chung có thiện cảm với Việt Nam. Nhưng vài năm gần đây, tình hình thay đổi nhanh chóng. Sau một số vụ phạm pháp nghiêm trọng, nhất là án mạng đầu tháng 8 rúng động nước Nhật, tôi bắt đầu lúng túng trước chính câu hỏi ấy.

Phần lớn người Việt vẫn chăm chỉ và tuân thủ pháp luật. Nhưng số vụ phạm pháp liên quan người Việt ngày càng dày lên. Theo Cục Cảnh sát Nhật Bản, năm 2025, người Việt liên quan 49% trong tổng số 12.226 vụ trộm do người nước ngoài bị xử lý. Tỷ lệ này lên tới 69,5% trong các vụ đột nhập, 58,4% trong ăn cắp ở cửa hàng và 33,4% trong lừa đảo. Một số vụ còn cho thấy dấu hiệu chuyển từ vi phạm nhỏ lẻ sang mạng lưới phi pháp liên quan tài khoản ngân hàng, SIM điện thoại và môi giới bất hợp pháp. Gánh nặng nợ nần trước khi sang Nhật kết hợp với túng quẫn kinh tế và mất việc sau khi bỏ trốn, được cho là yếu tố quan trọng đẩy một bộ phận người lao động vào rủi ro phạm pháp.

Khi niềm tin đổ vỡ, người Việt nói chung có thể bị nghi ngại khi tìm việc hay làm thủ tục, thậm chí gặp khó khăn khi thuê nhà. Hệ lụy cũng loang về trong nước. Trên mạng xã hội Nhật đã xuất hiện những phản ứng cực đoan, thậm chí kêu gọi hạn chế du lịch tới Việt Nam. Nếu uy tín quốc gia suy giảm, người làm ăn với các nước này có thể phải trả chi phí niềm tin cao hơn, cơ hội việc làm và hợp tác cũng bị ảnh hưởng. Với người muốn đi du lịch, việc xét duyệt visa có thể khó khăn, triển vọng miễn visa có thể xa vời hơn, dù Chính phủ Việt Nam vẫn tích cực thúc đẩy.

Không phải mọi người phạm pháp đều là lao động mắc nợ. Nhưng một hệ thống tạo ra những khoản nợ có nguy cơ đẩy một bộ phận lao động vào vùng rủi ro, cần được nhìn lại.

Hãy lần ngược con đường của một lao động phổ thông.

Một người ở quê nghe tiếp thị "bánh vẽ" về công việc tại Nhật với mức thu nhập đủ thay đổi cuộc đời. Họ khó biết chính xác công việc, tổng chi phí và thu nhập thực sau khấu trừ "ở bển" ra sao. Nhiều người vay tiền, thế chấp tài sản, trả phí môi giới, đào tạo và thủ tục. Khi lên máy bay, chưa có đồng lãi nào, trên vai họ đã gánh một khoản nợ.

Nhiều người ra đi từ số 0, thậm chí khởi hành từ con số âm.

Khi chi phí xuất khẩu quá lớn, người lao động không còn đơn thuần đi tìm việc. Họ đi "thu hồi vốn". Nếu việc làm ít hơn cam kết, thu nhập thấp hơn kỳ vọng, điều kiện khắc nghiệt hoặc bị đối xử không phù hợp, khoản nợ biến thành áp lực. Đồng yen suy yếu càng khoét sâu khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế.

Phí cao tạo nợ, nợ tạo áp lực, áp lực làm tăng sức cám dỗ của bỏ trốn hoặc làm việc trái phép. Không phải cứ bỏ trốn là phạm tội, và khó khăn không biện minh cho phạm pháp. Nhưng khi đã ra khỏi hệ thống hợp pháp, một số người dễ rơi vào mạng lưới bất chính.

Đa số người Việt vẫn làm việc tử tế, giữ hồ sơ sạch, gửi tiền về nhà và trở về với kỹ năng, vốn liếng. Nhưng mỗi vụ vi phạm lại thêm một "con sâu làm rầu nồi canh".

Lâu nay ta thường nghĩ "đầu ống" của chuỗi rủi ro là doanh nghiệp xuất khẩu lao động (XKLĐ). Nhưng vụ án cựu Thứ trưởng đã phơi bày một mắt xích sâu hơn: quan chức bị cáo buộc tạo "giấy phép con", buộc doanh nghiệp chi tiền "bôi trơn" hàng chục tỷ đồng. Chi phí bất hợp pháp ấy cuối cùng có thể đẩy xuống người lao động, thêm 500-1.000 USD mỗi người, tức thêm một phần khoản nợ.

Tiền bất hợp pháp ở đầu nguồn có thể biến thành rủi ro xã hội ở cuối nguồn. Đây là vòng luẩn quẩn cần cắt.

Muốn "gạn đục" cuối ống, phải "khơi trong" đầu ống. Nghị định 283 tạo chế tài răn đe ở đầu cuối. Nhưng muốn xử lý tận gốc, phải thiết kế lại cả đường ống ấy.

Trước hết là minh bạch chi phí. Người lao động phải biết mình trả bao nhiêu, cho ai, khoản nào hợp pháp và thu nhập thực còn lại. Mỗi doanh nghiệp XKLĐ cần có "thẻ điểm" công khai về chi phí, tỷ lệ hoàn thành hợp đồng, khiếu nại và bỏ hợp đồng. Đơn vị có dữ liệu xấu phải bị kiểm tra, thậm chí loại khỏi hệ thống. Việt Nam và nước tiếp nhận cũng cần chia sẻ dữ liệu để cảnh báo sớm.

Quan trọng không kém, người lao động phải có lối thoát hợp pháp trước khi chạy vào bóng tối. Khi bị giữ lương, bóc lột hoặc gặp chủ sử dụng không phù hợp, họ phải biết gọi ai và có lựa chọn chuyển việc hoặc hồi hương theo pháp luật. Các cơ quan đại diện Việt Nam cần có bộ phận chuyên trách hỗ trợ pháp lý, can thiệp sớm và tư vấn tâm lý. Đừng đợi một người biến mất rồi mới đi tìm.

Phía nước bạn cũng đang cải tổ. Chương trình Thực tập sinh kỹ năng (TITP) của Nhật vốn bị chỉ trích vì hạn chế người lao động đổi việc đang được chuyển sang hệ thống "Đào tạo và Phát triển" (Ikusei Keiro), với quyền chuyển việc mở rộng và nhiều lựa chọn công việc hơn.

Cần xoay trục tư duy từ "xuất khẩu lao động" sang "phát triển vốn nhân lực quốc tế", nhấn mạnh kỹ năng, tay nghề và các mối quan hệ khi trở về. Chỉ tiêu không chỉ là đưa được bao nhiêu người đi, mà còn là bao nhiêu người hoàn thành hợp đồng, bao nhiêu người có "tài khoản dương" và cải thiện được kinh tế gia đình, bao nhiêu người nâng được kỹ năng và trở về tạo giá trị mới. Một hệ thống "hậu XKLĐ" tốt sẽ tạo động lực giữ hồ sơ sạch, kết nối người trở về với doanh nghiệp trong nước, và biến kinh nghiệm và kỹ năng thu được thành cơ hội lập nghiệp.

Khi một lao động bước lên máy bay, họ mang theo kỳ vọng gia đình, tương lai của bản thân và một phần hình ảnh đất nước. Nhìn dòng người trên vỉa hè đợi làm thủ tục ở Tokyo, tôi đau đáu nghĩ về con số âm họ mang sang đây, và những hệ lụy có thể còn lại khi họ trở về. Giữ gìn quốc thể phải bắt đầu trước khi người lao động bước lên máy bay. Đào tạo cần cải tổ toàn diện, từ trang bị ngôn ngữ, luật pháp tới văn hóa làm việc và ứng xử xã hội, để ý thức làm việc chuyên nghiệp và giữ gìn quốc thể trở thành năng lực nghề nghiệp.

Hai chục năm nay, tôi và rất nhiều bạn bè người Việt luôn nỗ lực đem lại hình ảnh đẹp nhất về con người Việt Nam trong mắt bạn bè Nhật. Và chúng tôi vẫn muốn mãi có thể vui vẻ nói mình là người Việt khi được hỏi thăm.

Tô Kiên