Chính sách thuế quan Mỹ: Thúc đẩy đàm phán chuỗi cung ứng ngành dệt may

🗓️ 2026-07-31 📁 education 📝 ⏱️ 👁️ : -

Trước những biến động chính sách thương mại từ Hoa Kỳ, ngành dệt may Việt Nam đang đưa ra các định hướng ứng phó ở cả góc độ vĩ mô và doanh nghiệp. Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) kiến nghị Chính phủ sớm đàm phán với phía Hoa Kỳ để chuyển tải các thông tin thực tế về quy định pháp luật cũng như hợp tác thương mại giữa hai nước.

Theo Vitas, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ từ nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump (từ ngày 20/01/2025 đến nay) đã tạo ra sự thay đổi lớn nhất trong chính sách thương mại của nước này.

Nếu trong nhiệm kỳ đầu (2017-2021), Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào Trung Quốc, thì ở nhiệm kỳ hai, chính sách này mở rộng thành chiến lược áp thuế toàn cầu. Hoa Kỳ sử dụng nhiều cơ sở pháp lý khác nhau nhằm tái cấu trúc chuỗi cung ứng, tăng nguồn thu ngân sách và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Quá trình điều chỉnh chính sách bắt đầu bằng việc công bố mức thuế đối ứng theo Luật Quyền năng Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) ở mức rất cao, buộc các quốc gia phải chủ động đề nghị đàm phán. Cụ thể, Việt Nam có mức thuế đối ứng ban đầu được công bố là 46%, sau khi đàm phán đã hạ về mức 20%.

Đến tháng 2/2026, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ bác bỏ việc sử dụng IEEPA để áp thuế trên diện rộng. Ngay sau đó, chính quyền Tổng thống Trump đã chuyển sang các căn cứ pháp lý khác. Các căn cứ này bao gồm Điều 122 quy định mức thuế tạm thời 10% áp dụng trong 150 ngày; Điều 232 quy định thuế an ninh quốc gia cho các mặt hàng như thép, nhôm, ôtô, đồng, gỗ; và Điều 301 áp dụng thuế chống hành vi thương mại không công bằng thông qua điều tra về lao động cưỡng bức, dư thừa công suất và sở hữu trí tuệ.

ttxvn-1012-xuat-khau-det-may.jpg
Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Liên quan đến thuế theo Điều 301 về lao động cưỡng bức, từ ngày 12/3/2026, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra 60 nền kinh tế; trong đó, có Việt Nam. Ngày 23/7/2026, Hoa Kỳ chính thức công bố việc áp thuế với các quy định cụ thể cho từng nhóm quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo công bố này, mức thuế 10% được áp dụng cho 17 quốc gia gồm Argentina, Bangladesh, Campuchia, Canada, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Malaysia, Mexico, Pakistan, Sri Lanka, Vương quốc Anh, Trinidad và Tobago.

Mức thuế này không áp dụng cho Việt Nam. Đối với hàng hóa có xuất xứ từ Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sĩ và Đài Loan (Trung Quốc), thuế Điều 301 được tính bằng phần chênh lệch sau khi trừ thuế MFN.

Chẳng hạn, trường hợp đang chịu mức thuế MFN là 6% sẽ phải nộp thêm 4% thì thuế Điều 301 để bằng mức 10%; trường hợp hàng hóa đang chịu mức thuế MFN là 12% thì mức thuế Điều 301 phải nộp thêm là 0%.

Bên cạnh đó, Hoa Kỳ thiết lập hạn ngạch thuế quan (TRQ) đối với 4 quốc gia gồm Bangladesh, Campuchia, Indonesia và Malaysia với thời hạn ban đầu là 3 năm.

Mục đích của TRQ là khuyến khích nhập khẩu bông và nguyên phụ liệu từ Hoa Kỳ cho một số sản phẩm dệt may. Các quốc gia này vẫn chịu mức thuế 10% cho đến khi TRQ chính thức được thiết lập.

Đối với Việt Nam, mức thuế theo Điều 301 được ấn định ở mức 12,5%. Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước (cùng với Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ) chịu mức thuế này trong tổng số 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất vào Hoa Kỳ.

Mặc dù năm 2025, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu bông của Hoa Kỳ nhiều nhất với khối lượng gần 778.000 tấn, trị giá 1,37 tỷ USD, nhưng lại không nằm trong danh sách được thiết lập hạn ngạch thuế quan TRQ.

Phân tích về tương quan lực lượng và mức độ ảnh hưởng của chính sách này đối với dệt may Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam đánh giá: "Về mặt thuế quan và hạn ngạch, các đối thủ cạnh tranh chính đang có lợi thế hơn so với Việt Nam. Cụ thể, Bangladesh có lợi thế lớn nhất vì vừa chịu mức thuế 10% vừa được thiết kế hạn ngạch thuế quan TRQ nhằm khuyến khích sử dụng bông và nguyên liệu dệt của Hoa Kỳ. Campuchia chịu thuế thấp hơn Việt Nam 2,5 điểm phần trăm và có cơ hội hưởng TRQ giúp tăng sức cạnh tranh ở phân khúc may mặc cơ bản. Indonesia vừa có mức thuế thấp hơn, vừa sở hữu chuỗi cung ứng sợi - vải khá hoàn chỉnh nên có thể tận dụng TRQ tốt hơn. Các quốc gia khác như Ấn Độ và Pakistan giữ lợi thế về mức thuế 10%, trong khi Mexico chịu mức thuế 10% cùng ưu thế khoảng cách địa lý và hội nhập khu vực Bắc Mỹ. Riêng Trung Quốc tuy cùng chịu mức 12,5% nhưng còn gánh thêm các biện pháp khác từ các đợt áp thuế Điều 301 trước đây nên chịu áp lực lớn hơn Việt Nam."

Phía Việt Nam đã ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương; trong đó, quy định rõ việc cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bởi hành vi cưỡng bức lao động. Do đó, Việt Nam đề nghị phía Hoa Kỳ đưa mức thuế về 10% như 17 nước khác.

Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia chiếm tỷ trọng nhập khẩu bông của Hoa Kỳ lớn nhất, trong khi hạn ngạch thuế quan TRQ lại đang dành cho Bangladesh, Campuchia, Indonesia, Malaysia để khuyến khích nhập khẩu bông Hoa Kỳ, đây cũng là nội dung cần thảo luận trong các phiên đàm phán.

Ở góc độ giải pháp dành cho các đơn vị sản xuất, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam nhấn mạnh: "Các doanh nghiệp dệt may cần hợp tác chặt chẽ với khách hàng để chia sẻ khó khăn, đồng thời tập trung nâng cao năng lực nội tại, khả năng cạnh tranh, đẳng cấp sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần chứng minh mức độ tuân thủ cao hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng bao gồm truy xuất nguồn gốc từ bông, xơ, sợi, vải đến thành phẩm; đánh giá và giám sát nhà cung cấp theo tiêu chuẩn lao động; lưu giữ hồ sơ minh bạch về điều kiện lao động, nguồn nguyên liệu; đồng thời xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và báo cáo ESG để nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu của các thị trường lớn."

Trước dự báo môi trường thương mại quốc tế sẽ còn nhiều biến động và khó lường, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần chủ động chuẩn bị nguồn lực và xây dựng các giải pháp dự phòng để thích ứng linh hoạt trong thời gian tới./.

Kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm 2026 toàn ngành ước đạt 22,2 tỷ USD, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2025. (Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN)

Ngành dệt may Việt Nam: Quản trị rủi ro vượt "sóng cả" thị trường

Ngành dệt may trong nửa cuối của năm 2026 có thể đối mặt với nhiều áp lực khó khăn, đòi hỏi các doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ và tập trung quản trị rủi ro.

(TTXVN/Vietnam+)